Tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân Vật Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân Vật Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2022

THÁI HẬU DƯƠNG VÂN NGA - MỘT VAI GÁNH VÁC CẢ ĐÔI SƠN HÀ (KỲ CUỐI)

 

Dương Vân Nga trở thành chính cung Hoàng hậu nhà Tiền Lê

Sau khi chiến thắng quân Tổng trở về, vua Lê Đại Hành dốc toàn lực xây dựng, củng cố đất nước và đặt quan hệ giao hảo với nhà Tống. Năm 982, nhà vua sách phong một lượt năm vị Hoàng hậu, phong danh hiệu Đại Thắng Minh Hoàng hậu cho Dương Vân Nga,  trở thành chính cung Hoàng hậu nhà Tiền Lê và đứng đầu hậu cung. Bốn vị khác là Phụng Càn Chí Lý Hoàng hậu, Thuận Thánh Minh Đạo Hoàng hậu, Trịnh Quốc Hoàng hậu và Phạm Hoàng hậu. Việc này được Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Nhâm Ngọ, Thiên Phúc năm thứ 3 [982], ( Tống Thái Bình Hưng Quấc năm thứ 7 ). Lập Hoàng thái hậu nhà Đinh là Dương Thị làm Đại Thắng Minh Hoàng Hậu. Hậu là vợ của Tiên Hoàng, mẹ đẻ cuả Vệ Vương Toàn. Khi vua lấy được nước, đem vào cung, đến đây lập làm Hoàng hậu, cùng với Phụng Càn Chí Lý Hoàng Hậu, Thuận Thánh Minh Đạo Hoàng Hậu, Trịnh Quấc Hoàng Hậu, Phạm Hoàng Hậu là 5 hoàng hậu”. Vua Lê Đại Hành biết rằng nhờ có sự ủng hộ và tin tưởng của Dương Vân Nga mà ngài mới có thể giữ vững và có được giang sơn, đồng thời nhà vua cũng mến mộ trước tài sắc và tấm lòng cao rộng vì nước vì dân của Dương Vân Nga, cảm phục trước một người phụ nữ đã can trường vượt qua biết bao bão táp, rối ren của thời cuộc, người phụ nữ đặc biệt ấy xứng đáng được nắm giữ ngôi vị của bậc mẫu nghi và trên hết vua Lê muốn người phụ nữ tài sắc, thông minh, đức hạnh ấy cùng mình gánh vác giang sơn nên vua Lê Đại Hành vẫn lập Dương Vân Nga làm chính cung Hoàng hậu dù rằng nàng là vợ của Đinh Tiên Hoàng.


Dương Vân Nga là vị Hoàng hậu của cả hai triều đại Đinh - Tiền Lê, ảnh sưu tầm 

Khi trở thành Hoàng hậu nhà Tiền Lê, Dương Vân Nga đã hạ sinh một nàng Công chúa, được vua Lê Đại Hành đặt tên là Lê Thị Phất Ngân. Công chúa Phất Ngân sau này trở thành Hoàng hậu nhà Lý (vợ vua Lý Thái Tổ). Năm 982, vua Lê Đại Hành sai Từ Mục, Ngô Tử Canh sang bang giao với Chiêm Thành, bị Chiêm Thành bắt giữ. Vua Lê Đại Hành sai đóng chiến thuyền sửa binh khí, ngài thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Mọi việc trong nước vua Lê Đại Hành giao cho Thái hậu Dương Vân Nga và các đại thần xử lý. Năm ấy, dân chúng gặp nạn đói, người xiêu tán, phiêu bạc khắp nơi. Ngoài cổng cung thành đâu đâu cũng gặp cảnh đói khát, cảnh chết chóc xảy ra. Dương hậu nghĩ mình thay mặc vua chăm lo cho dân, trước tình cảnh đói khổ của dân chúng mà không cứu giúp thì thật không đáng làm mẫu nghi thiên hạ nên Hoàng hậu đã cho phép triều thần xuất kho lương để cứu giúp dân chúng Hoa Lư trước và đợi nhà vua chinh chiến trở về sẽ bàn phương kế để cứu trợ nhân dân nghèo khổ cả nước. Nghe tin vua Lê Đại Hành đã đánh bại quân Chiêm, Chính cung Hoàng hậu Dương Vân Nga cùng cả triều đình và dân chúng Hoa Lư đều hồi hộp chờ đợi  để đón tiếp Hoàng đế Lê Đại Hành đánh Chiêm chiến thằng trở về.

Để ghi nhớ công ơn của Dương Vân Nga, Thái hậu nhân dân đã phối thờ tại đền vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành, ảnh sưu tầm.  

Biết vua Lê Đại Hành rất bận việc triều chính lại thường phải xông pha nơi khỏi lửa trận mạc để dẹp loạn trong nước cũng như chống giặc ngoại bang nên Hoàng hậu Dương Vân Nga luôn cố gắng thu xếp ổn thoải việc hậu cung, để tránh những hiềm khích, nghi kỵ xảy ra giữa các Hoàng hậu, Phi tần, giữa các công chúa Hoàng tử để nhà vua vững tâm lo việc nước, để các võ tướng văn quan dốc hết tâm hết sức bảo vệ Hoa Lư, bảo vệ đất nước. Đặc biệt trong mối quan hệ giữ Đinh Toàn với vua Lê Đại Hành, Hoàng hậu Dương Vân Nga luôn tìm cách để hai người có điều kiện gần gũi và hiểu nhau vì Hoàng hậu muốn Đinh Toàn hết lòng phò tá vua Lê xây dựng và bảo vệ đất nước và muốn vua  tin tưởng Đinh Toàn. Tuy bận rộn với việc nội cung nhưng Hoàng hậu Dương Vân Nga vẫn quan tâm tìm thầy dạy văn, dạy võ và dạy cả lễ nghĩa cho Vệ vương. Nhờ năng khiếu bẩm sinh và lòng ham mê học tập, Vệ vương tiến bộ một cách nhanh chóng. Ngoài ra Vệ vương còn ưa thích việc nghiên cứu binh thư, đến tuổi trưởng thành Vệ vương đã trở thành một chàng trai văn võ kiêm toàn. Đây cũng là lúc Vệ vương phải mang tài học ra để giúp nước, để tỏ lòng hiếu thảo với hương hồn vua Đinh Tiên Hoàng, không phụ công bao lâu mẫu hậu và vua Lê Đại Hành nuôi dưỡng. Trong các cuộc hành quân, đánh dẹp nội loạn vua Lê Đại Hành đều đưa Đình Toàn đi theo. Năm 1001, Vệ vương Đinh Toàn cùng với vua Lê Đại Hành đi đánh giặc ở Cử Long, Đinh Toàn trúng tên của giặc và hy sinh trên chiến trường. Cuối đời, Hoàng hậu Dương Vân Nga tu hành tại động Am Tiên ở phía đông kinh thành Hoa Lư. Năm 1000, Hoàng hậu qua đời. Đại Thắng Minh Hoàng hậu được thờ cùng với vua Lê Đại Hành tại đền vua Lê ở khu di tích cố đô Hoa Lư và thờ cùng vua Đinh Tiên Hoàng tại đền Mỹ Hạ ở Gia Thủy, Nho Quan. Tại khu di tích đình - chùa Trung Trữ, Ninh Giang, huyện Hoa Lư, bà còn được phối thờ cùng cả hai vua. Tại chùa Am Tiên còn lưu giữ bài thơ khắc trên tường nói về cuộc đời vị Hoàng hậu này:

“Hai vai gồng gánh hai vua

Hai triều hoàng hậu, tu Chùa Am Tiên

Theo chồng đánh Tống bình Chiêm

Có công với nước, vô duyên với đời…”.

Một vài suy ngẫm xoay quanh câu chuyện cuộc đời của lưỡng triều Hoàng hậu Dương Vân Nga

Chân dung Thái hậu Dương Vân Nga được khắc họa một cách sinh động với nhiều cung bậc cảm xúc và màu sắc khác nhau qua hành trình nàng trở thành Hoàng hậu của cả hai triều đại Đinh - Tiền Lê. Có lúc Hoàng hậu hiện lên với hình ảnh lộng lẫy, tôn quý, có lúc thông mình, sắc bén, có cả hạnh phúc và khổ đau, có lúc dịu dàng và cá những lúc can trường, cứng rắn, có cả dáng dấp của một nhà chính trị đầy quyền uy, quyết đoán và mưu lược, có cả hình ảnh của một người phụ nữ chân yếu tay mềm và cả sự can đảm, mạnh mẽ của một bậc đại trượng phu. Từ một người phụ nữ bình thường Dương Vân Nga trở thành vị Hoàng hậu được vua Đinh Tiên Hoàng sủng ái nhất bằng chính nhan sắc và tài đức của mình. Những lúc được ở bên nhà vua và hai Hoàng tử Hạng Lang, Đinh Toàn là lúc Dương hậu cảm nhận được hạnh phúc, sự ấm áp và tình yêu thương của một gia đình, đó cũng chính là lúc Hoàng hậu cảm thấy mình dịu dàng, lộng lẫy, tôn quý và tràn trề sức sống nhất vì nàng được thực hiện thiêng chức của một người vợ, người mẹ. Ở chốn hậu cung dù muốn hay không Hoàng hậu và các con của mình không thể tránh khởi sự ganh ghét, đố kỵ, lời ra tiếng vào từ Hoàng tộc và triều đình. Sự trọn vẹn, êm đềm không bao giờ là mãi mãi, giông bão nổi lên, liên tục ập đến bủa vây cuộc đời Hoàng hậu và Hoàng triều. Trong vòng chưa đầy một năm, Hoàng hậu đã phải gánh chịu bao đau thương, mất mát: mất chồng, mất con, triều chính hỗn loạn, giặc ngoại xâm nhòm ngó, ấu chúa mới lên ngôi còn nhỏ chưa đủ sức lo liệu việc nước, việc nhà. Biết bao gian truân, khó khăn, nhọc nhằn đè nặng lên đôi vai gầy của Hoàng hậu. Có những lúc Dương Vân Nga tưởng chừng như mình không còn đủ sức để tiếp tục nhưng khi nghĩ đến ấu chúa Đinh Toàn, nghĩ đến Hoàng tộc và vận mệnh của đất nước, của muôn dân Hoàng hậu đã không dễ dàng khuất phục trước sóng gió. Điều đó giúp cho Thái hậu Dương Vân Nga có được sự mạnh mẽ, sự quyết đoán, linh hoạt và khôn kéo trong hành động của mình trước những thách thức và khó khăn mà thời cuộc đặt ra. Nhờ quyết định sáng suốt và kịp thời của Thái hậu trong việc chọn và nhường ngôi cho Lê Hoàn mà cuộc kháng chiến chống Tống mới giành được thắng lợi, non sông, bờ cõi được giữ vững và Dương Vân Nga được tiếp tục tấn phong làm chính cung Hoàng hậu của nhà Tiền Lê, cùng vua Lê Đại Hành xây dựng và củng cố đất nước. Để trở thành Hoàng hậu của hai vị Hoàng đế uy danh lẫy lừng như Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành thì Dương Vân Nga phải thật sự là người phụ nữ xứng đáng và xứng tầm. Hoàng hậu Dương Vân Nga cũng tôn quý, uy nghiêm, mưu lược không kém so với hai vị vua này. Khi bước lên ngôi vị có một không hai ấy, không phải để hưởng thụ quyền lực, vinh hoa phú quý mà Dương Hoàng hậu đã phải trải qua biết bao cay đắng, thăng trầm, hy sình, Hoàng hậu cũng đã tự nhận lãnh và thực hiện xuất sắc trách nhiệm của mình đối với quốc gia, dân tộc trong vai trò mẫu nghi của hai triều đại.

Hình ảnh của Thái hậu Dương Vân Nga như hình ảnh của nước, vừa mềm mại, vừa mạnh mẽ, linh hoạt để vượt qua mọi khó khăn thử thách, ảnh suu tầm. 

Đã có một thời gian rất dài, các sử gia thời xưa dựa trên Nho giáo đều trực tiếp hoặc gián tiếp buộc tội Dương Vân Nga tư thông với Lê Hoàn để chiếm đoạt ngôi vua của nhà Đinh. Như sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, Đại Hành thông dâm với vợ vua đến chỗ nghiễn nhiên lập làm Hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn,...”, hay Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim cũng viết: “Vệ vương mới có sáu tuổi lên làm vua, quyền chính ở cả Thập đạo tướng quân là Lê Hoàn, Lê Hoàn lại cùng với Dương hậu tư thông”,... Cái nhìn của các sử gia Nho học về một vị Hoàng hậu có vai trò chuyển giao quyền lực giữa hai triều đại trong lịch sử Việt Nam như thế liệu đã thực sự đúng đắn, đầy đủ và thấu suốt chưa? Chúng ta hãy lùi lại một chút để có được cái nhìn đa chiều và rộng mở hơn về vị Hoàng hậu đặc biệt này, Năm 1981, học giả Văn Tấn có đánh giá về Thái hậu Dương Vân Nga như sau: “Tiếng nói của quân đội lúc này là tiếng nói của cả dân tộc trong lúc thế nước gặp gian nguy… Truyền thống yêu nước và đoàn kết của dân tộc Việt Nam nói chung và của phụ nữ Việt Nam nói riêng đã làm cho Dương Thái Hậu nhanh chóng tìm ra một lối đi phù hợp với lợi ích của dân tộc… Việc chủ động chuyển quyền hành của bản thân mình và của con mình cho Lê Hoàn, Dương Thái Hậu tỏ ra là một phụ nữ khôn ngoan, sáng suốt, dám lựa chọn sự hy sinh lớn khi cần phải lựa chọn. Hành động của bà rất đẹp đẽ, nó có tác dụng hàn gắn mọi rạn nứt trong lực lượng dân tộc nảy sinh ra từ cái chết đột ngột của Đinh Tiên Hoàng và con trai trưởng là Đinh Liễn”. Cách đánh giá về sự kiện Dương Thái Hậu như trên có một bước ngoặt quan trọng về việc viết sử. Văn Tấn đã đưa “dân tộc” - khái niệm quan trọng nhất của bối cảnh chính trị đương thời, vào trong hoạt động nghiên cứu lịch sử. “Dân tộc” là vấn đề trung tâm, “đoàn kết dân tộc” là hoạt động thiết thực của người làm chính trị, các “rạn nứt trong lực lượng dân tộc” là nguy cơ của việc phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, dẫn đến việc giặc xâm lược, đe dọa đến độc lập dân tộc. Mà Độc lập là lợi ích sống còn của dân tộc. Dương Thái Hậu đã được đặt vào khung lý thuyết mới, hệ tư tưởng mới. Thái hậu được đánh giá là người đã biết hy sinh lợi ích cá nhân để hàn gắn rạn nứt dân tộc, là người đã khôn ngoan tiến hành công tác đoàn kết dân tộc, thể hiện ý chí của toàn thể dân tộc.

Hơn thế nữa, Thái hậu đã chứng minh giá trị lớn lao của người phụ nữ không chỉ ở sự giác ngộ tự thân về quyền lợi về địa vị của mình phải gắn liền với quyền lợi và địa vị của quốc gia dân tộc mà còn ở cả trí thông minh, tầm nhìn chiến lược đồng thời lại cũng rất nữ tính nữa. Dương Vân Nga là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên trong lịch sử đã nêu một tấm gương sáng về quyền tự quyết định vận mệnh của bản thân mình - quyền tự do yêu đương, tự do hôn nhân mà không bị lệ thuộc vào giáo lý phong kiến, cũng như thói thường của dư luận. Giá trị cuối cùng là Thái hậu Dương Vân Nga đã được nhân dân thờ ở vị trí trung tâm, coi Thái hậu như một biểu tượng của một tinh thần xả thân vì đất nước nhưng cũng vô cùng dũng cảm để tự quyết định tình yêu của mình. Hình ảnh của Thái hậu Dương Vân Nga giống như hình ảnh của nước, bản chất của nước rất diệu kỳ. Nước luôn mang lại cảm giác hiền hòa, bình yên, tưới mát tâm hồn, nước không màu, không mùi, không vị để tôn mọi thứ ở cạnh với nước lên. Nước còn có khả năng luồn lách, linh hoạt chảy qua mọi địa hình để giữ vững dòng chảy. Và nhìn mềm mại vậy thôi nhưng nước có sức mạnh phi thường, có thể mài mòn cả đá. Thái hậu Dương Vân Nga là người phụ nữ hiền hòa, mỏng manh nhưng linh hoạt, khôn khéo và khi cần cũng có thể mạnh mẽ vượt qua mọi nghịch cảnh và đấu tranh cho quyền lợi của chính mình. Chân dung  Thái hậu Dương Vân Nga chắc hẳn sẽ để lại cho mỗi người chúng ta những suy ngẫm và những bài học cho riêng mình. Đó có thể là những suy ngẫm và bài học về sự linh hoạt, khôn ngoan trong hành động và lựa chọn trước những biến đổi mau lẹ của thời cuộc, cũng có thể là vị trí vai trò của người phụ nữ trong xã hội xưa và nay, đó cũng có thể là bài học về lòng yêu nước, lòng tự hào và trách nhiệm của mỗi công dân đối với quê hương, đất nước hay cũng có thể là nghị lực, sự can trường vượt qua những khuôn khổ của thời đại và những giói hạn của bản thân để có thể đạt được những mục đích tốt đẹp và to lớn hơn hoặc cũng có thể là bài học về chọn và sử dụng người tài,...


Thái hậu Dương Vân Nga xứng đáng đứng ngang hàng với vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Hoàn vì những dóng góp của bà đối với đất nước, ảnh sưu tầm. 

Nói đến Dương Vân Nga là nói đến vị lưỡng triều Hoàng hậu trao đi ngôi báu vì giang sơn, đại cuộc. Nhắc đến Dương Vân Nga là nhắc đến người phụ nữ khôn ngoan, mạnh mẽ, một vai gánh vác cả đôi sơn hà, là người phụ nữ xinh đẹp, đức hạnh, thông minh, tài nghệ. Nhớ đến Dương Vân Nga là nhớ luôn cả vùng đất Hoa Lư (Ninh Bình), nơi mà xưa ấy Đinh Tiên Hoàng đã từng đóng đô, nhà nước Đại Cồ Việt ra đời, nơi chứng kiến sự chuyển giao quyền lực giữa hai triều đại nằm trong tay một người phụ nữ, nơi chứng kiến bao chiến công hiển hách của cả hai triều đại Đinh - Tiền Lê,... Nếu có dịp đến  thăm cố đô Hoa Lư, hay tìm đọc những trang sách về vùng đất địa linh, nhân kiệt này chúng ta sẽ gặp lại hình ảnh cũng như những câu chuyện xoay quanh cuộc đời  Thái hậu Dương Vân Nga. Hình ảnh ấy sẽ để lại trong mỗi chúng ta những ấn tượng và cảm nhận riêng về vì Hoàng hậu đặc biệt này. Với những dóng góp của mình cho giang sơn, xã tắc, Dương Vân Nga xứng đáng được hậu thế ghi nhận, biết ơn, kính phục và tôn vinh như biết bao bật anh hùng hào kiệt khác của Việt Nam. Dù quá khứ đã lùi xa, nhưng hình ảnh về một cố đô nguy nga, diễn lệ, về những nhân vật lịch sử gắn liền với vùng đất này và đặc biệt là hình ảnh của Thái hậu Dương Vân Nga - một bậc mẫu nghi tài sắc vẹn toàn sẽ không bao giờ bị phủ lấp dưới lớp bụi mờ của thời gian. 

 

Nguồn tham khảo:

1. Các sử thần triều Lê, 2006, Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn, 1998, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB Giáo Dục, Hà Nội.

3. Nguyễn Quang Thắng - Nguyễn Bá Thế, 2013, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

4. Nguyễn Khắc Thuần, 2018, Việt sử giai thoại, tập 1, NXB Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội.

5. Nhiều tác giả, 2014, Những phi hậu nổi tiếng của các triều đại Việt Nam, NXB Thời Đại, Hà Nội.

6. Đặng Việt Thủy - Đặng Thành Trung, 2019, 54 vị Hoàng hậu Việt Nam, NXb Hồng Đức, Hà Nội.

7. Hoàng Công Khanh, 1996, Hoàng hậu hai triều Dương Vân Nga, NXB Văn Học, Hà Nội.

8. Ngô Viết Trọng, 2005, Dương Văn Nga - non cao và vực thẳm, NXB Văn Học, Hà Nội.

                           

 


THÁI HẬU DƯƠNG VĂN NGA - MỘT VAI GÁNH VÁC CẢ ĐÔI SƠN HÀ (KỲ III)

 

Dương Vân Nga một tay gánh vác việc nước, việc nhà khi sóng gió ập đến Hoàng triều

Nổi đau mất con chưa nguôi thì sóng gió lại tiếp tục ập đến bủa vây cuộc đời Hoàng hậu Dương Vân Nga và Hoàng tộc. Tháng 10/979, Chi hậu nội nhân Đỗ Thích thấy sao sa rơi vào miệng, Đỗ Thích cho đấy là điềm tốt và nghĩ rằng mình có thể làm vua nên đã tìm cách giết hại vua Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn. Đỗ Thích được vua Đinh Tiên Hoàng phong làm chức Chi Hậu Chánh chưởng coi giữ kho gạo, kho muối và kho binh khí lập ở ngũ Phong Sơn, kiêm luôn việc bếp nước, yến tiệc hàng ngày trong hoàng cung, phụng hầu nhà vua, các Hoàng hậu, các Hoàng tử và Công chúa. Đỗ Thích là người gần gũi và được nhà vua tin tưởng. Gần quá, quen quá hóa nhờn, cùng với tham vọng được nắm giữ quyền lực, địa vị đã làm Đỗ Thích mờ mắt. Đỗ Thích nghĩ vua chúa thật ra cũng như người bình thường, Đinh Tiên Hoàng làm vua được, tại sao mình lại không được? Chính tham vọng đó, suy nghĩ đó đã kiến Đỗ Thích liều lĩnh giết vua và giết luôn cả Nam Việt vương. Sự kiện Đỗ Thích giết Đinh Tiên Hoàng được Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Mùa đông, tháng mười, Chi hậu nội nhân Đỗ Thích1 giết vua ở sân cung. Bọn Định quốc công Nguyễn Bặc bắt được đem giết. Trước đó Đỗ Thích làm chức lại ở Đồng Quan, đêm nằm trên cầu, bỗng thấy sao sa rơi vào miệng, Thích cho là điềm tốt, bèn nảy ra ý định giết vua. Đến đây, nhân lúc vua ăn yến ban đêm, say rượu nằm trong sân, Thích bèn giết chết, lại giết luôn cả Nam Việt Vương Liễn”. Hoàng hậu Dương Vân Nga cùng với Hoàng tộc, triều đình lo liệu tang lễ cho vua Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương cũng như tìm bắt Đỗ Thích. Khi ấy lệnh lùng bắt hung thủ rất gấp, Đỗ Thích phải lén núp ở máng nước trong cung qua ba ngày, vì vừa khát vừa đói lả, gặp lúc trời mưa thò tay hứng nước uống, cung nữ trông thấy liền đi báo. Định quốc công Nguyễn Bặc đã sai người bắt và trừng phạt Đỗ Thích theo phép nước. Trong nỗi sầu thảm khủng khiếp khó nguôi Hoàng hậu Dương Vân Nga tưởng chừng như mình có thể bị ngã gục bất cứ lúc nào nhưng Duong hậu vẫn nén đau thương trong lòng để lo liệu tang lễ cho Hoàng đế. Duong hậu cùng 4 Hoàng hậu khác và các con của nhà vua chua ai muốn rời xa người chồng, người cha, vị Hoàng đế đã đem cho mình niềm vinh hạnh và cuộc sống vương gia, quý tộc bấy lâu, cho dân chúng vùng Hoa Lư được hớn hở kể với mọi người rằng mình là dân đất quê vua, cho đất nước thoát khỏi cảnh loạn lạc.


Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích sát hại sóng gió bắt đầu ập đến Hoàng triều (ảnh sưu tầm), ảnh sưu tầm

Đất nước một ngày không có vua sẽ loạn. Sau khi lo xong tang lễ cho Tiên đế, Vệ vương Đinh Toàn được triều đình Đại Cồ Việt chính thức tôn lên làm Hoàng đế. Ngài không đặt niên hiệu mới mà vẫn giữ nguyên niên hiệu Thái Bình của Tiên đế. Hoàng hậu Dương Vân Nga được tấn phong làm Thái hậu. Đinh Toàn mới là một đứa trẻ lên sáu nên không thể gánh vác việc nước. Thái hậu Dương Vân Nga phải nhiếp chính, đồng thời giao cho Lê Hoàn làm Phó vương. Trong các buổi chầu, Thái hậu ngồi sau mành và Lê Hoàn ngồi cạnh vua để giải quyết việc triều chính. Có việc gì trọng đại sẽ hoãn lại để bàn bạc với Thái hậu. Do vậy, Lê Hoàn được phép ra vào cung cấm để tiện cho việc bàn bạc chính sự. Thấy Lê Hoàn và Thái hậu ngày càng thân thiết, sợ ngôi vua sẽ rơi vào tay  Phó vương nên Đinh Điền, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp là những đại công thần của triều Đinh đã bàn thảo kế hoạch dáy binh tiêu diệt Lê Hoàn. Trước tình thế đó, Thái hậu Dương Vân Nga đã gọi Lê Hoàn vào cung  tìm cách giúp ấu chúa dẹp loạn. Lê Hoàn tâu với Thái hậu rằng: “Thần ở chức Phó Vương, quyền nhiếp chính sự, cho dẫu biến loạn sống chết thế nào, cũng quyết đảm đương trách nhiệm”. Nói rồi ông chuẩn bị quân ngũ để tiến đánh và tiêu diệt được Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: “Vua nối ngôi khi mới 6 tuổi. Lê Hoàn nhiếp chính, làm công việc như Chu Công, tự xưng là Phó Vương. Bọn Định quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, Phạm Hạp ngờ Hoàn sẽ làm điều bất lợi cho vua nhỏ, bèn cùng nhau dấy binh, chia hai đường thủy bộ, muốn tiến về kinh đô giết  Hoàn, nhưng không đánh nổi, bị giết”. Sở dĩ Đinh Tiên Hoàng đầy uy danh lừng lẫy cũng bởi vì quanh Đinh Tiên Hoàng và sát cánh với ngài là một loạt những tướng lĩnh tài ba, như Đinh Điền, như Nguyễn Bặc, như Phạm Hạp, như Lê Hoàn và như không biết bao nhiêu là người tài khác. Tiếc thay, những bậc anh tài này chỉ sát cánh với nhau khi có Đinh Tiên Hoàng chứ không thể sát cánh với nhau sau khi Đinh Tiên Hoàng đã khuất. Anh tài chẳng thể nương tha anh tài. Đinh Điền, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp chỉ mới thấy ngôi vua mà chưa thực sự thấy triều đình, chỉ mới thấy chuyện Hoàng tộc chứ chưa thực sự thấy hết chuyện xã tắc, chỉ mới thấy việc ở trước mắt chứ chưa thấy sự lợi hại của mai sau. Nếu họ sáng suốt phân tích những biến đổi của thời cuộc thì có lẽ sự việc đáng tiếc này sẽ không xảy ra.


Phò mã Ngô Nhật Khánh mưu toan tạo phản, công chúa Phất Kim ngăn chồng. Ngô Nhật Khánh bỏ lại Công chúa và dong thuyền sang Chiêm Thành, ảnh sưu tầm.

Trước lúc bằng hà, Đinh Tiên Hoàng đã đồng ý cho Phò mã Ngô Nhật Khánh (người thuộc dòng dõi Ngô Quyền, đứng dầu sứ quân xứ Đường Lâm, được nhà vua gả con gái của mình cho Nhật Khánh để ông phò trợ nhà Đinh) đưa Công chúa Phất Kim về Ái Châu nhưng thực ra là sang cầu viện Chiêm Thành giúp mình khôi phục lại vương quyền họ Ngô. Từ ngày về làm Phò mã nhà Đinh, ngoài mặc Nhật Khánh cười cười nói nói chan hòa, nhưng trong lòng vẫn nuôi ý phục thù. Trên đường đi khi biết được Nhật Khánh sang Chiêm Thành, Công chúa Phất Kim đã khuyên can chồng và kiên quyết không đi cùng Nhật Khánh để phản bội vua cha, phản bội dân tộc, nàng đã bị Nhật Khánh dùng mũi gương hớt lên má, máu và nước mắt hòa lẫn vào nhau trên gương mặt tuyệt vọng của Công chúa. Nhật Khánh đã bỏ lại Phất Kim cùng những thị tỳ theo hầu nàng để sang Chiêm Thành. Từ khi ở biên giới phía Nam quay về, Phất Kim trở thành người câm lặng, suốt ngày chẳng nói chẳng rằng. Ở trong cung cũng như ở núi chùa, Phất Kim sống vật vờ, lờ lững như cái bóng. Thương con thắt ruột, Thái hậu thường đến chùa thăm con, lệnh cho tỳ nữ chăm sóc ăn uống thuốc thang. Nghe tin vua Đinh Tiên Hoàng băng hà, triều đình rối ren, Ngô Nhật Khánh đã dẫn hơn một nghìn chiến thuyền cùng quân Chiêm Thành tiến đánh Đại Cồ Việt nhưng gặp lúc bão lớn đã nhấn chìm Ngô Nhật Khánh và toàn bộ quân, thuyền bè, duy chỉ có vua Chiêm còn sống sót. Sự kiện này được Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Phò mã Ngô Nhật Khánh dẫn thuyền quân Chiêm Thành hơn nghìn chiếc vào cướp, muốn đánh thành Hoa Lư, theo hai cửa biển Đại Ác và Tiểu Khang, qua một đêm, gặp gió bão nổi lên, thuyền đều lật đắm, Nhật Khánh cùng bọn người Chiêm đều chết đuối, chỉ có thuyền của vua Chiêm thoát trở về nước…". Giông bão liên tiếp ập đến làm cho Phất Kim đau đớn, xót xa, tuyệt vọng, cuối cùng Công chúa đã nhảy xuống giếng, trước lầu Vọng Nguyệt, phía tây bắc kinh thành Hoa Lư tự vẫn. Như vậy là chưa đầy một năm, đau buồn và tang tóc liên tiếp gieo xuống đầu Thái hậu Dương Vân Nga. Trước cảnh đau thương, triều chính hỗn loạn trong lòng Thái hậu Dương Vân Nga cũng ngổn ngang trăm mối, gỡ lối chưa xong nhưng Thái hậu vẫn một lòng quyết chí vượt qua giông bão, vượt qua mọi điều tiếng, gán ghép tội tư tình giữa Thái Hậu và Phó vương để bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ sự nghiệp của vua Đinh Tiên Hoàng cũng như bảo vệ ấu chúa và bảo vệ chính mình. Bằng sự kiên cường, sắc sảo, mưu lược cùng với sự phò trợ của Phó vương Lê Hoàn, Thái hậu Dương Vân Nga đã tạm thời thu xếp ổn thoải việc nước, việc nhà vì hơn ai hết Thái hậu nhận thức được rằng từ chỗ loạn nhà đến chỗ hại nước, khoảng cách thật chẳng xa. Những mối lo chung về quốc sự đã làm cho Thái hậu và Phó vương ngày càng gắn bó với nhau chặt chẽ hơn.


Thái hậu Dương Vân Nga - Người đã xoay chuyển vận nước từ nguy thành an

Tin Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương bị ám sát không mấy chốc đã đến tai vua nhà Tống. Tiếp đó, ấu chúa lên nối ngôi còn nhỏ, các triều thần tranh giành giết hại lẫn nhau làm cho vua Tống còn quyết tâm thôn tính nước Đại Cồ Việt. Trước thời cơ đó, tháng 7/980 vua Tống bèn phong Hầu Nhân Bảo làm Giao Châu lục lộ thủy lộ Chuyển vận sứ, các tướng Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ, Giả Thực, Lưu Trừng làm Binh mã đô bộ thư, tất cả âm thầm sửa soạn quân lương để chinh phạt Đại Cồ Việt. Quân do thám của Đại Cồ Việt dò biết việc này bèn cấp báo về Hoa Lư. Nhận được tin cấp báo, Thái hậu và Phó vương đều có chung suy nghĩ là không thể để non sông gấm vóc rơi vào tay giặc nhưng cũng còn rất nhiều điều làm cho Thái hậu lo lắng, trăn trở. Vua còn nhỏ không đủ sức để lãnh đạo đất nước đánh giặc, không phải tất cả văn quan võ tướng trong triều và ở trong các đạo binh đóng trên các trận địa đều có quyết tâm chống giặc như Thái hậu và Phó vương. Cũng như Đinh Điền, Nguyễn Bặc, các quần thần chung một lòng yêu nước, nhưng khác ý trong cách cư xử. Họ đều rất mực trung thành với Đinh Tiên Hoàng, họ muốn duy trì dòng họ Đinh. Sự nghi ngờ của họ đối với Lê Hoàn là dễ hiểu. Điều đó là trở ngại lớn cho Lê Hoàn, trước sức mạnh ồ ạt của quân Tống, sự thiếu cùng lòng một chí trong nội bộ sẽ làm cho cuộc chống xâm lược gặp khó khan, cho dù Lê Hoàn có tài cầm quân và nắm cả mười “Đạo” trong tay. Quần thần trong triều đình đang bơi giữa hai dòng nước nửa xuôi nửa ngược. Nếu phó mặc thì khi thua trận, nhà Đinh mất, đất nước rơi vào tay giặc. Nếu hăng hái quyết tâm dẹp giặc thắng lợi, thì quyền lực lọt vào tay Lê Hoàn nhà Đinh vẫn không tồn tại.


Hình ảnh minh họa Thái hậu Dương Vân Nga đắn đo trao việc nước về tay người ngoài hay giữ giang sơn cho dòng tộc, ảnh sưu tầm

Lại những đêm mất ngủ vì trằn trọc trong thấp thỏm, lo âu của Thái hậu. giữa trăm mối ngổn ngang Thái hậu chưa biết phải xử trí như thế nào. Tin tức từ các nơi lại bay về kinh đô tới tấp và toàn là những đòi hỏi cấp bách. Tổng chỉ huy giặc Hầu Nhân Bảo đương dong hàng trăm chiến thuyền men theo bờ biển len lách qua các đảo vượt Vân Đồn đến cửa Lục vào sông Bạch Đằng. Đoàn huyện Sứ Lan Châu Tôn Toàn Hưng dồn thủy quân ở Hoa Bộ sát hải phận Vạn Ninh, chờ Thứ sử Ninh Châu Luu Trừng gom thêm lương thực cho thật dồi dào rối sẽ cùng xuống Chi Lăng. Quân khí khố phó Giả Thực và Cung Phụng quan Cáp chi môn hậu Vương Soạn thiết lập trung doanh ở Châu Tư Minh làm trạm trung chuyển cung cấp lương thảo khí giới cho cả hai toán quân thủy bộ hai nơi. Lại còn đạo quân dự bị của Chuyển vận sứ Hứa Trọng Tuyên vừa để bảo vệ hậu tuyến vừa làm lực lượng bổ sung cho tiền phương khi cần thiết. Thế trận của giặc Tống đã rõ, hai mũi tiến công ấy sẽ gặp nhau tại Chi Lăng, sau đó chúng có thể tập trung toàn lực xông xuống Hoa Lư. Trước quân số đông gấp hàng chục lần và uy thế hùng hổ muốn nốt chửng Đại Cồ Việt của địch, Lê Hoàn vô cùng lo lắng. Ông đã định ra kế hoạch để đánh giặc nhưng lòng người lại không quy về một mối. Thù trong chưa giải hết, giặc ngoài lại cường hung. Ấu chúa còn quá nhỏ, Thái hậu Dương Vân Nga lại đang là cái đích để trăm ngàn mũi tên đàm tiếu bắn vào.

Tình hình nghiêm trọng, cấp thiết lúc này không cho phép Thái hậu suy nghĩ đắng đo quá lâu, nếu không quyết định dứt khoát và nhanh chóng không chỉ Thái hậu mà cả Hoàng triều và quốc gia, dân tộc của người sẽ rơi vào lâm nguy. Đó là một thử thách khắc nghiệt đối với Thái hậu, cũng là thước đo nghị lực đối với trí lực của một Thái hậu cầm quyền, là ngọn lửa thử vàng đối với  tâm tình Thái hậu với muôn dân, trăm họ và lòng tin của Thái hậu đói với Phó vương Lê Hoàn. Khi cả triều đình đang họp bàn về việc đánh giặc Tống xâm lược. Tất cả đều đồng thanh là phải đánh. Nhưng đánh như thế nào và ai sẽ là người thống lĩnh binh lính, huy động dân chúng thì chưa thể quyết định được. Mọi người bàn luận chưa xong thì các tướng lĩnh đeo gương, mặc giáp từ ngoài cổng bước vào, dứng ngoài sân triều là một toán quân thiện chiến, dàn hàng nghiêm chỉnh, thay cho toán quân tức vệ cung đình. Mọi người chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, từ trong hàng ngữ Đại Tướng quân Phạm Cự Lạng bước ra, chấp tay cung kính thưa với Thái hậu nên lập Thập đạo tướng quân làm thiên tử rồi sau hãy đem quân đánh giặc. Mọi người chưa kịp định thần thì toán lính ngoài sân triều đã hô vang: “Vạn tuế! Thiên tử vạn tuế!”. Ngoài cổng cung thành tiếng hô theo “Vạn tuế! Lê thiên tử vạn tế!” cũng nổi dậy rầm trời. Tiếng hô đập vào núi đá quanh kinh thành, dội lại thành tiếng vang, kéo dài mãi tưởng như thiên binh vạn mã hò reo. Trong triều quần thần bị hấp lực của sóng âm thanh dù là người có thiện cảm, tán thành hay một vài người trung thành với nhà Đinh chống lại Lê Hoàn đều nhất loạt đứng dậy hô theo. Trước khí thế vang đội ấy, trước sự nhất trí của quần thần, Thái hậu Dương Vân Nga đã không một chút do dự lấy áo long Cổn trao cho Phó Vương mời ông lên ngôi. Tiếng hô “Vạn tuế! Vạn tuế!”  bỗng lại ầm ầm vang trời dậy đất, trùm ngợp cỏ cây, sông núi kinh đô. Sự kiện Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế được Đại Việt sử ký toàn thư ghi như sau: “Canh Thìn, [Thái Bình] năm thứ 11 [980], mùa thu, tháng 7, Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về. Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cư Lạng làm Đại Tướng quân. Khi [triều đình] đang bàn kế hoạch xuất quân, Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người rằng: " Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng còn trẻ thơ, chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho ? Chi bằng trước hãy tôn lâp ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẻ xuất quân thì hơn". Quân sĩ nghe vậy đều hô "vạn tuế ". Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế. Từ đó Hoàn lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc năm đầu  [980]”.\

Ảnh minh họa cảnh Thái hậu Dương Vân Nga trao long cổn cho Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn, ảnh sưu tầm. 

          Thái hậu Dương Vân Nga đã chọn hy sinh lợi ích của cá nhân, của dòng họ mình để đặt lợi ích của đất nước lên trên vì Thái hậu muốn nhìn thấy đất nước, muôn dân của mình được sống trong cảnh  yên vui, thái bình, bờ cõi trời Nam được giữ vững, Thái hậu lựa chọn tin tưởng Lê Hoàn vì thấy được tài năng và đức độ của ông sẽ có thể lèo lái con thuyền dân tộc vượt qua thử thách nguy nan, và Thái hậu cũng lựa chọn tin vào chính minh, tin rằng việc mình nhường ngôi cho Lê Hoàn là đúng đắn để giúp quốc gia khỏi họa xâm lăng và tin mình sẽ vượt qua được tất cả những điều tiếng, nghi ngờ. Sẽ không có thiết triều chúc tụng vị Hoàng đế triều đại mói của trăm quan văn võ, không có tiệc khao ba quân tướng sĩ, cũng không mở hội đèn hoa ca hát ăn mừng trong dân chúng. Ai lên ngôi để hưởng cuộc đời nhung lụa, còn Lê Hoàn lên ngôi trước hết là để nhận lấy sứ mệnh vinh quanh mà cực kỳ khó khăn đó là chỉ huy cuộc kháng chiến chống giặc Tống xâm lăng, bảo vệ nền tự chủ. thái bình cho xã tắc giang sơn. Thời gian gấp rút, giặc ngoại xâm ở ngoài cửa ngõ, không thể để chúng dày đạp, xéo nát núi sông. Chỉ kịp ban chiếu nhường ngôi, bố cao thiên hạ, tôn xưng miếu hiệu Đại Hành, cải niên hiệu là Thiên Phúc. Vua Lê Đại Hành cùng cả nước khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược. Vua Lê Đại Hành một mặt sai Phạm Cự Lạng đem thủy binh chống giặc Tống trên sông Bạch Đặng, mặc khác nhà vua trực tiếp chỉ huy chiến trận ở mặt bộ. Về mặt thủy, quân Tống quá mạnh nên quân Đại Cồ Việt phải trải qua rất nhiều khó khăn mới cầm chân được quân Tống. Nhưng về mặt bộ, Hầu Nhân Bảo ỷ mạnh, dương dương tự đắc tiến lên, bị dụ vào ổ phục binh thuộc ải Chi Lăng, quân Đại Cồ Việt  phục sẵn đổ ra đánh cho tan tác. Hầu Nhân Bảo bị bắt đem về giết. Hai bộ tướng của y là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt đem về Hoa Lư. Tôn Toàn Hưng thoát được chạy trốn về nước. Bọn Lưu Trừng và Trần Khâm Tộ nghe tin bộ quân đã tan vỡ hoảng sợ phải rút quân lui. Phạm Cự Lạng thừa thế đuổi đánh bắt được rất nhiều binh lính và thuyền bè. Vua Tống thấy quân mình bị thua nhục, giận dữ quá, bèn xử tử tướng Tôn Toàn Hưng. Thế là năm 981, đại quân của vua Lê Đại Hành đã mang chiến thắng khải hoàn trở về Hoa Lư. Nghe được tin chiến thắng của nhà vua, gánh nặng ngàn cân đang dè nén trên đôi vai gầy và nỗi lo như thiêu như đốt của Thái hậu Dương Vân Nga dường như đã được trút bỏ vì thiên hạ, dân chúng của Thái hậu đã tránh được kiếp lầm than, nô lệ, vì vua Lê Đại Hành đã không phụ lại lòng tin của Thái hậu và đặc biệt là quyết định sáng suốt, đúng đắn, kịp thời của Thái hậu đã làm biến đổi cục diện lúc bấy giờ, triều đình từ hỗn loạn, chia rẽ đã trở nên nhất trí đồng lòng cùng nhau chống giặc, từ chỗ bị động đến chỗ chủ động trong cuộc kháng chiến chống Tống, tìm được người đủ đức đủ tài để lèo lái con thuyền đất nước vượt qua giông bão, xoay chuyển vận nước từ nguy thành an.

Mời các bạn đón xem kỳ cuối của bài viết này nhé!


Thứ Hai, 15 tháng 8, 2022

THÁI HẬU DƯƠNG VÂN NGA - MỘT VAI GÁNH VÁC CẢ ĐÔI SƠN HÀ (KỲ I)


                              “Một miền đất, bé chăn trâu tập trận

                               Lớn, ngai vàng vẫn nhớ bóng cờ lau

                              Đời trận mạc gửi hồn trên lưng ngựa

                              Cố đô rêu phong trùng điệp núi xanh màu”

Một miền đất sinh vương, sinh thánh, tiếng quân xưa vẫn còn vọng đến bây giờ, để nghìn năm vẫn bồi hồi nhớ về đất cố đô. Những vần thơ dội lên từ ký ức thẩm sâu đang dẫn dắt chúng ta về với vùng đất cố đô xưa. Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam, được Đinh Tiên Hoàng khởi dựng, một tòa kinh thành đá kỳ vĩ có một không hai trong lịch sử dân tộc suốt hành trình dựng nước mấy ngàn năm. Đây cũng là nơi từng lưu dấu sự hưng vong, cung vàng điện ngọc của bao bậc đế vương, hoàng hậu trải suốt 42 năm trị vì của ba triều đại kiêu hùng là Đinh - Tiền Lê và buổi đầu thời Lý từ năm 968 đến 1010. Chúng ta hãy cùng ngược dòng thời gian, trở về thế kỷ X để tìm gặp hình ảnh của Dương Vân Nga, một người phụ nữ có vai trò quan trọng đối với tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, một người phụ nữ bình thường với biết bao trăn trở, suy nghĩ trước những thị phi, điều tiếng của triều đình, gia đình, dòng tộc để rồi vượt lên trên tất cả Hoàng hậu đã hy sinh lợi ích của bản thân để phục vụ lợi ích nước nhà. Chân dung của vị Hoàng hậu đặc biệt này sẽ được khắc họa qua hành trình nàng trở thành mẫu nghi nhị triều Đình - Tiền Lê.  



Cố  đô  Hoa Lư - nơi lưu giữ dấu ấn hưng vong của ba triều đại Đinh - Lê - Lý  -Trần. ảnh sưu tầm. 

Dương Vân Nga có vẻ đẹp của một bậc quốc sắc thiên hương

 Dương Vân Nga (? – 1000), người Ái Châu (Thanh Hóa), là con gái một nha tướng của Dương Đình Nghệ. Theo các truyền thuyết dân gian, sinh thời Dương Vân Nga rất xinh đẹp. Nàng có gương mặt bầu bĩnh như khuôn trăng, song vẫn có nét thanh tú, cao sang như áng mây bồng bềnh. Cái tên Vân Nga (mây trăng) của nàng cũng hàm ý được điều đó. Nước da của nàng trắng hồng và đôi mắt phượng mày ngài lúc nào cũng long lanh đầy tình tứ. Các nhà nghiên cứu cho rằng Dương Vân Nga là người phụ nữ đẹp nhất trong lịch sử Việt Nam. Vẻ đẹp của nàng quyến rũ đến nỗi mỗi bước đi cũng làm cả vùng thiên nhiên, cây cỏ xao động, bừng sáng. Vẻ đẹp của nàng được mô tả qua những vần thơ trong cuốn Hoàn Vương ca thích (tìm thấy ở Hà Nam):

“Đồi đông điểm ngọc, đồi tây mây vàng

Suối trong tựa ánh nguyệt tràn

Mây ngồi xổm, cá lượn đàn lên mây

Chim kề mỏ, bướm xỏ mày

Bao nhiêu suối chảy thành cây đàn cầm,…”


Hình tượng sắc đẹp phúc hậu và thanh tú của Thái hậu Dương Vân Nga, ảnh sưu tầm. 

Dương Vân Nga có vẻ đẹp của bậc quốc sắc thiên hương mà trong thiên hạ khó có thể tìm được người thứ hai. Vẻ đẹp của nàng tựa như vẻ đẹp của những bông hoa quỳnh nở rộ rực rỡ trong những đêm trăng sáng, tỏa ra một mùi hương nhẹ nhàng, thanh tao, nồng nàn và quyến rũ bay xa ngàn dặm. Hoa quỳnh như một nữ hoàng kiêu sa, kiều diễn trong thế giới cảnh vật về đêm. Nó có vẻ đẹp lộng lẫy và mong manh nhưng thuộc họ xương rồng nên có sức sống mãnh liệt trong cả những điều kiện khắc nghiệt. Giữa những đóa quỳnh nở rộ dưới ánh trăng, Dương Vân Nga là một đóa quỳnh tôn quý và đặc biệt nhất. Chính vẻ đẹp thanh tú, mỹ miều, uyển chuyển của nàng đã khiến cho cả vị chúa động Hoa Lư Đinh Bộ Lĩnh và sau này là Thập đạo tướng quân Lê Hoàn say đắm. Đó cũng là một trong những lý do nàng được làm chính cung ở cả hai triều đại nhà Đinh và nhà Tiền Lê.

Dương Vân Nga là vị Hoàng hậu được Đinh Tiên Hoàng sủng ái nhất chốn hậu cung nhờ vào tài sắc và đức hạnh của mình

Sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, chấm dứt thời kỳ loạn lạc kéo dài hơn 20 năm (945 - 967). Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, xưng vương hiệu là Đinh Tiên Hoàng, lấy niên hiệu là Thái Bình, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư. Ngài cho xây dựng cung điện, chế triều nghi, định lại các phẩm hàm bá quan văn võ. Quần thần tôn ngài là Đại Thắng Minh Hoàng đế. Đến năm 970, Đinh Tiên Hoàng tấn phong một loạt năm vị Hoàng hậu đó là Đan Gia, Trinh Minh, Cồ Quốc, Kiểu Quốc và Ca Ông. Năm vị Hoàng hậu này quyền vị ngang nhau, không phân biệt quyền lợi lớn nhỏ trước sau, mỗi vị ở một cung riêng. Sự kiện tấn phong Hoàng hậu được Đại Việt sử ký toàn thư ghi như sau: “Canh Ngọ, Thái Bình năm thứ 1, [970] (Tống Khai Bảo năm thứ 3). Mùa xuân, tháng giêng […] lập 5 Hoàng hậu: một là Đan Gia, hai là Trinh Minh, ba là Kiểu Quốc, bốn là Cồ Quốc, năm là Ca Ông”.  Hoàng hậu Trinh Minh tức Trịnh Thị, em ruột của viên tướng Trịnh Tú, là một người tâm phúc, bạn từ thuở hàn vi của Đinh Tiên Hoàng. Hoàng hậu chỉ sinh được một công chúa là Minh Châu, sau này được gả cho người em ruột của sứ quân Trần Minh Công là Trần Thăng. Hoàng hậu Ca Ông là con một vị tộc trưởng rất uy tín trong các bộ tộc người Mường ở Ái châu. Nhờ ảnh hưởng của gia đình Ca Ông, người Mường và nhiều bộ tộc thiểu số khác đã ủng hộ Đinh Tiên Hoàng mạnh mẽ.  


Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng đã xây dựng triều nghi và tấn phong 5 vị Hoàng hậu (ảnh minh họa), ảnh sưu tầm. 

Hoàng hậu Đan Gia chính là bậc quốc sắc thiên hương Dương Vân Nga. Nhờ có nhan sắc xinh đẹp, lại hiểu biết nên Hoàng hậu trở thành người được nhà vua yêu thương nhất. Hoàng hậu Kiểu Quốc tức Kiều Nương vốn là em gái của sứ quân Kiều Công Hãn, cháu nội của Kiều Công Tiễn, người đã giết Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ để cướp quyền nhưng rồi lại phải chết dưới tay vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền. Dòng họ Kiều Công là một dòng họ có tiếng lâu đời, con cháu đông đúc, có ảnh hưởng rất lớn ở vùng Phong châu. Trong khi sứ quân Kiều Công Hãn tướng thua quân rã đang trốn tránh đâu đó, Đinh Bộ Lĩnh tình cờ gặp người em gái của vị sứ quân lỡ vận này cũng đang lưu lạc phong trần. Thấy Kiều Nương cũng được người, lại có ý chiêu an người trong dòng họ Kiều Công, Bộ Lĩnh bèn cho rước nàng về làm vợ. Cuối cùng là Hoàng hậu Cồ Quốc, tức Hoàng Thị, mẹ của Phò mã Ngô Nhật Khánh. Đinh Tiên Hoàng thấy Nhật Khánh là người có uy tín nhất trong Hoàng tộc họ Ngô nên ngài tìm đủ cách để thu phục vị cựu sứ quân này. Ngoài việc gả công chúa Phất Kim cho Nhật Khánh và cưới em gái của Nhật Khánh là Ngô Thị cho Đinh Liễn, ngài lại cưới luôn Hoàng Thị cho chính mình tạo thêm một mối dây dể buộc chặt Ngô Nhật Khánh.

Thời trẻ, Đinh Tiên Hoàng vốn là người ham mê chinh chiến, ít lưu tâm đến nữ sắc. Từ Hoàng hậu đầu tiên đến hai ba Hoàng hậu kế tiếp, nhà vua chưa thật sự có tình cảm mặn nồng với người nào cả. Từ ngày lập năm cung Hoàng hậu, tuy nói không phân biệt lớn nhỏ, trước sau, nhưng thực tế Đinh Tiên Hoàng vẫn chiếu cố đến cung Đan Gia hơn các cung khác. Lý do dễ hiểu là ở cung Đan Gia có một vị Hoàng hậu xinh đẹp, đức hạnh lại có Hoàng tử Hạng Lang, được coi như một viên trân châu của nhà vua. Thấy Dương hậu sinh được con trai, các  Hoàng hậu khác không ai muốn thua sút. Nên luôn ngầm tranh nhau, hễ có dịp là nói xấu nhau với nhà vua. Dương hậu là người đẹp nhất, trẻ nhất, lại có con trai, đương nhiên trở thành mục tiêu chính cho sự ganh ghét. Lúc bấy giờ nhà vua mới lên ngôi, công việc còn rối rắm nhưng ngài vẫn cố gắng dành nhiều thì giờ để đến với con. Hạng Lang càng lớn càng quấn quýt với vua cha. Năm 973, Dương hậu lại hạ sinh thêm một Hoàng tử nữa. Đinh Tiên Hoàng đặt tên cho Hoàng tử là Toàn. Đinh Toàn cũng là một Hoàng tử đẹp đẽ, thông minh không kém gì Hạng Lang. Hai đứa con đã thành hai cái vòng buộc chặt vị anh hùng Vạn Thắng vương với cung Đan Gia. Nhờ sự nuôi dạy, chăm sóc chu đáo của Dương hậu dành cho hai người con của mình mà hai Hoàng tử Đinh Hạng Lang và Đinh Toàn ngày càng tỏ ra thông minh, đĩnh ngộ.


Nhờ tài sắc của mình mà Dương Vân Nga được vua Đinh Tiên Hoàng sủng ái nhất chốn hậu cung, ảnh sưu tầm. 

Đinh Tiên Hoàng luôn muốn các con của mình trở thành những người tài ba nên đã mời nhều thầy giỏi đến dạy cho hai Hoàng tử nhỏ cả văn lẫn võ. Hạng Lang nhờ có một bộ óc thông minh nên học hành rất tiến bộ. Tuy còn nhỏ nhưng Hạng Lang đã có được căn bản võ nghệ đáng nể, Hoàng tử đã khá rành rẽ việc cưỡi ngựa múa gươm. Điều đó làm cho Đình Tiên Hoàng và Dương hậu rất vui mừng. Thấy được tài năng cùng với sự yêu thương sẫn có dành cho Hạng Lang nên Đinh Tiên Hoàng quyết định tấn phong Hoàng tử Hạng Lang lên làm Thái tử, chuẩn bị nối ngôi sau này. Sự kiện này được Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Mậu Dần [Thái Bình] năm thứ 9 [978], (Tống Thái Bình Hưng quốc năm thứ ba). Mùa xuân, tháng giêng […] lập con nhỏ là Hạng Lang làm Hoàng thứ tử, phong con thứ là Toàn làm Vệ vương”. Việc Đinh Tiên Hoàng lập con thứ làm Thái Tử làm dấy lên trong lòng Nam Việt Vương sự ganh ghét, đố kỵ. Đình Liễn cho rằng mình là con trưởng đã cùng vua cha xông pha trận mạc, lập nhiều chiến công hiển hách lại từng nhận tước phong của nhà Tống nhưng khi có Hạng Lang vua cha đã thiên vị cưng chiều mà lập làm Thái tử nên đã sai người ám hại em mình. Đại Việt sử ký toàn thư có chép rằng: “Kỷ Mão, [Thái Bình] năm thứ 10 [979], (Tống Thái Bình Hưng Quốc năm thứ 4). Mùa xuân, Nam Việt Vương Liễn giết Hoàng Thái tử Hạng Lang. Liễn là con trưởng của vua, thuở hàn vi cùng chịu gian khổ, đến khi định yên thiên hạ, ý vua muốn truyền ngôi cho, mới phong làm Nam Việt Vương, lại từng xin mệnh và nhận tước phong của nhà Tống. Sau vua sinh con nhỏ là Hạng Lang, rất mực yêu quý, lập làm Thái tử. Liễn vì vậy bất bình, sai người ngầm giết đi”. Cái chết tức tưởi của Thái tử Hạng Lang đã làm chấn động cả triều đình Hoa Lư. Đinh Tiên Hoàng cảm thấy vô cùng đau xót, tức giận trước cái chết của Thái Tử và hạ lệnh xử trảm Nam Việt vương. Nhưng trước sự can ngăn của các vị đại thần và Dương hậu đã tha thiết cầu xin nên nhà vua đã tha chết cho Đinh Liễn. Thương con út, giận con trưởng lòng Hoàng hậu như tan nát. Nay anh đã giết em lại để thêm cha giết con nữa, gia đình tàn sát lẫn nhau thì Hoàng hậu còn lòng dạ nào, mặt mũi nào mà sống tiếp. Dù rất bận việc triều chính nhưng vua Đinh Tiên Hoàng vẫn sắp xếp thời gian đến cung Đan Gia để an ủi, động viên Hoàng hậu vượt qua quãng thời gian khó khăn này. Nỗi đau ứa máu trong tìm của người mẹ mất con không thể nào diễn tả nỗi nhưng Hoàng hậu Dương Vân Nga đã can trường vượt qua để bảo vệ gia đình, bảo vệ Hoàng tộc dù mình phải chịu đau xót, đắng cay.

Chúc bạn ngày mới an lành và hãy đón chờ các kỳ sau của bài viết này nhé !