Không gian diễn xướng của Ca trù
Nhiều nhà nghiên cứu đã chia Ca trù thành ba
lối hát chính là hát chơi, hát cửa đình và hát thi. Trong đó hát chơi dược tổ
chức tại nhà quan viên hay
nhà đào nương
để cho quan
viên thưởng thức;
Hát cửa đình
là lối hát
thờ thần được tổ chức ở không gian đình; Hát thi được
tổ chức ở những không gian công cộng hoặc nơi thờ tự của giáo phường. Nhìn
chung, phần lớn các nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm về “ba không
gian của hát Ca trù”,
tuy rằng vẫn có
những ý kiến khác biệt. Một trong những ý kiến đó cho rằng Ca trù là một dạng
sân khấu hóa từ rất sớm trong lịch sử âm nhạc Việt Nam. Theo lập luận của Trần
Văn Khê thì sân khấu đã có một thời
kỳ thịnh hành
vào năm Canh Tuất (1790), nhưng đến cuối thời Lê
thì ca trù không còn theo truyền thống nữa, các đào nương hoặc nữ nhạc
công đồng thời
cũng là vũ nữ, âm nhạc ca trù có quan hệ với âm nhạc
thính phòng và âm nhạc múa.
Trải qua những thăng trầm của
lịch sử, đến đầu thế kỷ
XX, Ca Trù
đã dần biến
đổi so với
truyền thống của nó. Điều này được Đỗ Bằng Đoàn - Đỗ Trọng
Huề nhận định
như một cuộc thay đổi từ nhạc,
thơ đến sắc.
Quả thực vào
thế kỷ này,
ca trù đã
có một “cuộc
lặn lội từ
làng quê ra
đô thị” với
không gian ca
quán được tập
trung ở các
đô thị lớn
như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định
và Sài Gòn. Hiện nay, ca trù đang hồi sinh ở một số địa phương và đối diện với
xu thế sân khấu hóa. Vấn đề ở đây
là không gian
diễn xướng trên
sân khấu của
Ca Trù có phải mới
hình thành, hay
nó đã có một lịch sử lâu dài như nhận định của Trần
Văn Khê. Theo ý kiến riêng của tôi, Ca
Trù là một sinh hoạt nghệ thuật đã được sân khấu hóa từ rất sớm.
Điều này được
thể hiện qua những
đặc trưng về tính chuyên nghiệp trong biểu diễn, tầng lớp khán
giả là tinh
hoa làng xã,
mô hình tổ chức chặt
chẽ...
Mô hình tổ chức của Ca trù truyền thống
Với tư cách là một loại hình âm nhạc có quy định chặt chẽ, giáo phường của Ca trù đã được nhiều học giả đi sâu tìm hiểu. Trần Văn Khê cho rằng giáo phường là một tổ chức chuyên hòa nhạc cho dân chúng và cùng với sự suy tàn của nhã nhạc, âm nhạc dân gian trở nên rất thịnh hành, người ta dùng giáo phường không những trong các đám lễ thần của dân gian mà ngay cả trong lễ giáo và lễ triều hạ. Nguyễn Nghĩa Nguyên thì cho rằng các phường hội Ca Trù được xây dựng trên cơ sở cùng phụng sự một tổ nghề, có quy ước, khoán ướcđể ràng buộc mọi thành viên trong phường, có quỹ chung bằng tiền hoặc bằng trồng lúa hay ruộng đất. Trong khi đó, Nguyễn Xuân Diện lại chỉ ra các giáo phường được tổ chức thành các ty, ty giáo phường chia việc giữ cửa đình trong huyện cho các giáo phường, việc giữ cử đình mang tính truyền đời. Cũng trong nguồn cảm hứng ấy, Nguyễn Xuân Diện cũng chỉ ra rằng việc mua bán cửa đình trong các giáo phường xảy ra phổ biến nhất vào thế kỷ XVIII. Theo Đỗ Bằng Đoàn - Đỗ Trọng Huề trong lịch sinh hoạt thường niên, bao giờ các trùm phường cũng phải hội họp một lần để làm lễ tế tổ nghề. Sau ngày tế tổ, nếu có những sự vụ phải giải quyết, hội đồng các ông trùm sẽ cùng họp bàn, phân xử mọi việc trong nội bộ mỗi giáo phường.
Nghệ thuật Ca trù là nét đẹp trong truyền thống sinh hoạt nghệ thuật âm nhạc cổ truyền Việt Nam, ảnh sưu tầm.
Trong cuốn sách Việt Nam ca trù biên khảo tác giả đã thống kê được những luật lệ liên quan đến giáo phường: Luật cấm quan lại lấy phụ nữ làm nghề xướng ca; Luật cấm con nhà xướng ca không được đi thi và việc bãi bỏ luật lệ này trong các sách sử thời trước. Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng mối quan hệ gia đình, dòng họ được coi là sợi dây liên kết của tổ chức ca trù. Mai Thu Trang khi nghiên cứu về ca trù Thanh Hóa đã nhận thấy nó bắt nguồn từ họ Nguyễn (Bái Thượng, Định Liên), họ Lê, họ Đinh, họ Đào ... Đối với giáo phường Cổ Đạm (Hà Tĩnh), Nguyễn Nghĩa Nguyên thấy rằng đó là sự kết giao của hai dòng họ Nguyễn và Phan trong một làng. Ở làng Đông Môn (Hải Phòng), Trần Đức Tùng cũng chỉ ra rằng giáo phường Ca trù dựa trên nền tảng của hai dòng họ Tiên công là họ Tô, họ Phạm. Có thế nói, đối với Ca trù truyền thống thì yếu tố gia đình, dòng họ được đặt lên hàng đầu và đây được coi là hai nền tảng tạo nên những luật tục, quy ước được lưu truyền trong nội bộ giáo phường. Tuy nhiên, hiện nay các giáo phường ca trù đã được thay thế bởi các câu lạc bộ với quy mô và hoạt động dựa trên tư tưởng và quan điểm của nhà nước về việc bảo tồn và giữ gìn di sản văn hóa. Ở đó, vai trò ruyền thống của gia đình, dòng họ đã được thay thế bằng sự quản lý của chính quyền địa phương. Chính yếu tố này đã làm mất đi tính tự quản của những người thực hành ca trù và biến nghệ thuật này thành một sản phẩm mang tính quần chúng.
Nhờ những giá trị độc đáo về văn hóa, nghệ thuật nên ca Trù dù trải qua thăng trầm của thời gian vẫn tồn tại đến ngày nay, ảnh sưu tầm.
Có thể nói hát ả đào, hay Ca
trù là một nét son trong truyền thống sinh hoạt nghệ thuật âm nhạc chuyên nghiệp
cổ truyền của người Việt. Không quá đáng nếu cho rằng: hát Ả đào, suốt một chiều
dài lịch sử, bằng một sức sống mãnh liệt đã cô đúc và tiềm ẩn trong nó những
tín hiệu đặc trưng độc sáng của văn hóa dân tộc. Một thể loại mà trong tiến
trình phát triển đã thích ứng, hòa nhập với đủ mọi thiết chế văn hóa của xã hội
Việt Nam: vừa mang tính chuyên nghiệp cao trong cung vua phủ chúa (hát cửa
quyền); vừa mang đậm yếu tố dân gian trong tín ngưỡng thờ thần hoàng ở
hàng xã hàng huyện (hát cửa đình) và kể cả giai đoạn “bán chuyên” như ở
môi trường hát nhà tơ, hát cô đầu, quan viên... Đặc biệt, Ả
đào không phải chỉ là một hình thức sinh hoạt nghệ thuật dành riêng cho một tầng
lớp nào mà có thời nó đã trở thành một sinh hoạt phổ biến trong công chúng, như
học giả Nguyễn Đôn Phục trong Khảo luận về cuộc hát Ả đào đã cho
biết: “… hát Ả đào chỉ Bắc kỳ ta là thịnh nhất, không tỉnh nào không
có, không huyện nào không có. Trong một huyện thường hai ba làng có ả đào, mà
Trung kỳ thời chỉ tự Nghệ, Tĩnh trở ra là có cuộc hát Ả đào mà thôi”. Hy vọng
bài viết này sẽ cung cấp một số thông tin, kiến thức về loại hình nghệ thuật Ca
trù. Những thông tin ở trên được dựa vào nguồn tư liệu mà tôi đang có. Qua một
bài viết, tôi khó lòng cung cấp hết những nét phong phú, đa dạng trong sinh
hoạt nghệ thuật
Ca trù, vì
đây là một vấn đề phức
tạp, và vì sự thiếu hụt về nguồn tư liệu gốc để khảo cứu nên vẫn còn
nhiều khía cạnh
chưa thực sự tỏ tường về nguồn gốc,
đời sống, thực hành cũng như nghệ thuật
trong Ca trù nên phải
dành nhiều thời
gian, công sức
hơn nữa để tiếp tục nghiên cứu về
loại hình nghệ thuật này.
Nguồn tham khảo:
1. Việt Sử Tiêu Án, Ngô Gia
Văn Phái, Bản dịch của Hội Việt Nam nghiên cứu liên lạc Á Châu.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Các sĩ thần triều Lê, NXB Khoa học xã hội,
1967.
3. Vũ trung tùy bút, Phạm Đình
Hổ, NXB Trẻ, 1989.
4. Việt Nam Ca Trù biên khảo,
Đỗ Bằng Đoan – Đỗ Trong Huề, NXB Sài Gòn, 1962.
5. Ca Trù trong cung đình Thăng
Long, Dương Đình Ninh NXB Khoa học xã hội, 2009.
6. Bài viết Một số vấn đề trong
nghiên cứu Ca Trù hiện nay của Thạc sĩ Trần Đức Tùng đăng trên website Bảo
tàng dân tộc Việt Nam.
7. Bài viết Ca Trù nhìn từ sử liệu
đăng trên website Liên Hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.
8. Bài viết Hát ả đào dẫn liệu từ báo
chí xưa và nay đăng trên website Tạp chí sông Hương ngày 18/5/2021.